Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

TÍNH CHÍNH DANH CỦA TRIỆU ĐÀ VÀ NHÀ TRIỆU

Tranh cãi lịch sử về tính chính danh của Triệu Đà và nhà Triệu

Triệu Đà, nhà Triệu và nước Nam Việt là một vấn đề lịch sử gây nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu sử học Việt Nam từ vài thế kỷ qua. Nhìn chung, có hai quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này.
Quan điểm thứ nhất cho rằng Triệu Đã hay Triệu Vũ Đế đánh bại An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt là chuyện nội bộ nước Việt, nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam. Nhà Triệu mất là khởi đầu thời kỳ Bắc thuộc.
Quan điểm thứ hai cho rằng Triệu Đà là người Hán, theo lệnh Tần Thủy Hoàng đi chinh phạt Bách Việt, khi nhà Tần mất thì mới tách ra cát cứ, do đó Triệu Đà là kẻ ngoại bang đến xâm lược nước Âu Lạc. An Dương Vương mất nước là mở đầu thời kỳ Bắc thuộc.
Quan điểm công nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam
Từ khi giành lại quyền tự chủ, nhiều triều đại Việt đề cao vai trò lịch sử của Triệu Đà. Các bộ quốc sử Việt Nam suốt thời phong kiến đều chép nhà Triệu là một triều đại chính thống. Nhà Trần phong ông là Khai thiên Thế đạo Thánh vũ Thần triết Hoàng đế.
Đời Trần, sử gia Lê Văn Hưu soạn bộ Đại Việt sử ký, chép từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Ông so sánh Vũ Đế với các bậc vua hiền thời cổ như Thuấn, Văn Vương:
"Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ [như Trung Hoa], đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được".
(Bộ sử này nay không còn, nhưng lời bàn của Lê Văn Hưu được Ngô Sĩ Liên dẫn lại trong Đại Việt sử ký toàn thư.)
Sau khi bình xong quân Minh, Nguyễn Trãi thay lời Bình Định Vương Lê Lợi soạn Bình Ngô đại cáo, rằng:
Tự Triệu, Đinh, Lí, Trần chi triệu tạo ngã quốc,
Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương.
Tức là:
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nên độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương .
Hai câu này khẳng định nước Việt không những độc lập với phương Bắc mà còn xưng đế hiệu cùng một thời (nhà Triệu với nhà Hán), tỏ ra hoàn toàn ngang hàng.
Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, sử gia nhà Lê cũng dành cho Triệu Vũ Đế những lời tốt đẹp:
"Truyện Trung Dung có câu: "Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có danh, ắt được sống lâu". Vũ Đế làm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức mà thôi. Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao. Đến khi nghe tin Văn Đế đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán, do đó tông miếu được cúng tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư? Kinh Dịch nói: "Biết khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua". Vua chính hợp câu ấy".
Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: "Triệu Đà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít. Điều này chứng tỏ Triệu Đà là người mang sự học đến Việt Nam từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp".
Cuối đời Nguyễn, Trần Trọng Kim soạn Việt Nam sử lược vẫn chép nhà Triệu là chính thống.
Quan điểm phủ nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam
Người đầu tiên đánh giá lại vai trò của nhà Triệu có lẽ là Ngô Thì Sĩ, cuối đời Hậu Lê. Trong Việt sử tiêu án, ông khẳng định nước Nam Việt là ngoại bang, Triệu Đà là kẻ ngoại tộc:
"An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Kỷ Triệu Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy".
Ngô Thì Sĩ kết luận: "Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Đà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Đến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Đà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Đà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng".
Học giả Đào Duy Anh, trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam, cũng phê phán sử cũ và coi nhà Triệu là mở đầu thời kỳ Bắc thuộc.
Đó cũng là quan điểm chính thống hiện nay của Việt Nam, phản ảnh trong tất cả sách sử và trong cả các lãnh vực khác.
Chỉ có ngoại lệ là cuốn Niên biểu Việt Nam[1], tiếp theo nhà Thục, kê rõ nhà Triệu với đầy đủ các đời vua, tiếp theo là đến "Thời kỳ đấu tranh chống phong kiến Trung Hoa thống trị lần thứ nhất" tính từ năm 111 TCN. Trong bảng tra cứu niên hiệu các đời vua Việt Nam cũng liệt kê niên hiệu Kiến Đức của Thuật Dương Vương, vua cuối nhà Triệu (thật ra Kiến Đức là tên húy của ông vua này). Ngoại lệ này có lẽ do sách niên biểu cốt để phục vụ việc tra cứu, trong khi nhiều sử sách xưa của Việt Nam đã coi nhà Triệu là vua Việt Nam.
Các luận điểm tranh cãi chính
Vấn đề nguồn gốc của dòng vua
Xoay quanh vấn đề Triệu Đà và nhà Triệu, mấu chốt là do quan điểm nhìn nhận. Các sử gia không có xu hướng coi nặng việc tìm nguồn gốc Triệu Đà và bản chất dân nước Nam Việt sẽ nhìn nhận Triệu Đà là vua Việt Nam. Ngược lại những người coi trọng nguồn gốc xuất thân, dân tộc của người cầm đầu chính quyền, và bản chất dân nước Nam Việt thì sẽ có nhìn nhận khác.
Triệu Đà là người Hán, vốn là tướng nhà Tần, quê ở Chân Định (tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc ngày nay), mộ cha mẹ vẫn táng ở đấy.
Bên công nhận nhà Triệu cho rằng:
Nếu đặt ra vấn đề nguồn gốc của Triệu Đà, thì chính nguồn gốc của An Dương vương, gần đây cũng được nhiều nhà nghiên cứu nêu ra, sẽ không khác gì Triệu Đà. Theo một số công trình nghiên cứu gần đây (Lịch sử Việt Nam tập 1, Theo dòng lịch sử - nhiều tác giả) thì Thục Phán vốn gốc là dòng dõi người nước Thục ở Tứ Xuyên (Trung Quốc) và sang xâm lược nước Văn Lang, tiêu diệt Hùng Vương. Nếu vậy, An Dương vương liệu còn là một triều đại Việt Nam không? [2] Đi xa hơn nữa, nếu truy về nguồn cội tổ tiên, thì còn những trường hợp khác mà sử đã ghi, như Lý Nam đế (Lý Bí) có tổ 7 đời là người phương Bắc (Trung Hoa) vào Việt Nam, hoặc tổ tiên 5 đời của nhà Trần cũng vốn xuất thân từ đất Mân (Phúc Kiến - Trung Quốc) sang; tổ tiên của Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật sang Việt Nam thời Dương Tam Kha (sử chép là thời Hậu Hán 947 - 950, tương đương Dương Bình vương) được phong chức ở châu Hoan...
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, trên thế giới, việc một người nước ngoài làm vua không phải là không có. Chẳng hạn nước Nga vẫn ghi nhận vợ của Pyotr Đại đế là Ekaterina I, dù không phải là người Nga, nhưng được chồng cho thừa kế ngôi, là nữ hoàng như các nữ hoàng khác.
Tuy nhiên, những người phản bác cho rằng trường hợp nữ hoàng Ekaterina I của Nga cũng không thể so với Triệu Đà: một đàng chỉ một người ngoại quốc đã "nhập gia" quê chồng, còn triều đình, quân đội, ngôn ngữ vẫn là bản địa, đằng kia toàn bộ triều đình, quân đội, ngôn ngữ là dị biệt. Đặt giả định nếu nhà Tần không mất thì Triệu Đà sẽ không tách ra cát cứ, và cũng sẽ chẳng có nước Nam Việt mà đó chỉ là một quận của Trung Hoa mà thôi. Vai trò của Triệu Đà khi ấy sẽ chẳng khác gì những viên quan Thái thú người Hán khác đã cai trị Việt Nam suốt thời Bắc thuộc.
Theo tác giả Hà Văn Thùy[3], cuối thế kỷ 18, vua nước Xiêm là một người Trung Quốc tên Trịnh Quốc Anh[4] từng kéo quân sang đánh Hà Tiên. Trong khi đó, Triệu Đà có vợ Trình Thị là người Đường Thâm, Giao Chỉ, nên các con cháu ông - các đời vua sau của nhà Triệu - đều có phần máu Việt. Cũng theo ông Hà Văn Thùy thì "đúng Triệu Đà là người Hán nhưng đất Nam Việt lúc đó hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta".
Vấn đề "xâm lược" hay "thống nhất"
Những người phản đối tính chính thống của nhà Triệu, trong đó có Ngô Thì Sĩ, lập luận rằng Triệu Đà khởi phát ở bên ngoài lãnh thổ nước Việt, chiếm nước Việt làm quận huyện. Nước Nam Việt của Triệu Đà không phải nước Việt với ba vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam mà trong sử sách Việt Nam vẫn coi là lãnh thổ của mình. Do đó, nếu coi Triệu Đà là một vua Việt Nam thì giả thuyết này coi nước Việt Nam lúc ấy bao gồm cả các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần của tỉnh Hồ Nam, Vân Nam, và Phúc Kiến của Trung Quốc bây giờ. Nếu không thì phải cho đây là một sự xâm lược.
Một số học giả lại không cho việc Triệu Đà sáp nhập vùng đất của Âu Lạc vào Nam Việt là xâm lược. Tác giả Hà Văn Thùy[3] lập luận rằng "sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Do đó, việc thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt... để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Đà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành môt nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc." Học giả này đánh giá cao vai trò của nhà Triệu trong việc "tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt", và cho rằng đó là "di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt".
Theo một nghiên cứu của tác giả E Lusuo người Đài Loan về quá trình nhà Tần bình định vùng Nam Việt, dẫn tại [5], vào thời nhà Tần, dân cư bên này hay bên kia biên giới Việt-Trung hiện đại là không thể phân biệt được[6]; các học giả Trung Quốc gọi họ là người Lạc Việt, họ được cho là sử dụng cùng một ngôn ngữ.
Vấn đề chấp nhận triều đại ngoại tộc
Có người cho rằng quan điểm của các sử gia Việt Nam và Trung Quốc, một nước phong kiến khác tại châu Á, có sự khác nhau. Ở Trung Quốc, có nhiều triều đại, điển hình là Bắc Ngụy thời Nam Bắc triều, nhà Nguyên, nhà Thanh đều xuất thân ngoại tộc, không phải người Hán, nhưng sử sách vẫn chép như những triều đại khác của Trung Quốc, không coi là thời kỳ bị nội thuộc Hung Nô hay Mông Cổ. Những triều đại này sử dụng tiếng Hán, nghi lễ tập tục trong triều đã Hán hóa khá nhiều. Thậm chí người Mãn đã Hán hóa đến mức ngày nay chỉ còn một số rất ít người già còn biết tiếng Mãn, còn lớp trẻ chỉ biết tiếng Hán, một phần người Mông Cổ hay người Mãn ngày nay là 2 trong số 56 dân tộc của Trung Quốc, tức là lịch sử của họ cũng có thể coi là một phần lịch sử quốc gia. Ngoài ra, đất đai của các triều đại này phần lớn là lãnh thổ Trung Quốc ngày nay.
Theo học giả Lê Thành Khôi thì mặc dù gốc Trung Hoa, Triệu Đà đã chịu đồng hóa với dân Nam Việt, mà ông chấp nhận các phong tục tập quán đến độ gần như quên cả quá khứ của mình.[7]
--------------------------------------------------------------
Chú thích:
1. Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Niên biểu Việt Nam, Hà Nội:Nxb Khoa học Xã hội, 1984
2.  Có thuyết khác cho rằng Thục Phán không thể xuất xừ từ nước Thục ở Tứ Xuyên vì nơi đó quá xa Việt Nam, mà Thục Phán chính là thủ lĩnh của người Âu Việt (người Tày và người Nùng cổ) ở phía Tây Bắc Việt Nam.
3. Hà Văn Thùy, Tìm lại cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa.
4. Trịnh Chiêu (郑昭) - Taksin, vua Xiêm từ 1767 đến 1782, sinh tại Ayutthaya, Thái Lan, bố là người gốc Trừng Hải (澄海), Trung Quốc, mẹ là người Thái.
5. Jeffrey Barlow, The Zhuang: A Longitudinal Study of Their History and Their Culture, Section Chap. 3: The Qin Invasion of the Lingnan
6. Một sự kiện lịch sử ủng hộ thuyết này đó là: cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng cũng nhận được sự ủng hộ và tham gia của cư dân tại các quận Nam Hải, Hợp Phố mà nay thuộc địa phận Trung Quốc.
7. Lê Thành Khôi, Le Vietnam, histoire et civilisation, les Edition de Minuit, Paris 1955, tr 93
Theo WIKIPEDIA

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

NHẠC SỸ SA LƯỚI TÌNH


Nhạc sĩ "Chút thơ tình người lính biển" sa lưới tình nữ quái

Thứ tư 26/06/2013 08:12
Đăng Nước đào hoa, điều này trong giới nghệ sĩ ai cũng biết. Cứ thỉnh thoảng, người ta lại "mắt tròn, mắt dẹt" khi thấy ông "tay trong tay" một cô gái trẻ cỡ tuổi cháu mình.
Người nói Đăng Nước may mắn, người nói ông "sát gái", người lại nói ông có tài, có duyên thầm bên trong nên dễ thu hút trái tim của những cô gái ngây thơ. Tuy nhiên, ít ai biết, gã nghệ sĩ tưởng chừng đã trở thành "chú sói già" trên tình trường ấy cũng có những lúc vô cùng khờ khạo trước cái đẹp. Gặp Đăng Nước lần này, ông đã không giấu diếm PV khi tiết lộ mối tình say đắm nhưng cũng lắm bẽ bàng với một người phụ nữ chuyên đi "lừa tình".
Dù đã tới tuổi lục tuần nhưng nhạc sĩ Đăng Nước vẫn khiến nhiều người "mắt tròn, mắt dẹt" bởi luôn có bên mình những "bóng hồng" mới tuổi đôi mươi.
Hơn 300 triệu “trôi theo mối tình thơ”

- Với "thiên tình sử" hoành tráng như vậy, chắc hẳn bây giờ nhạc sĩ Đăng Nước đã trở thành một người "lọc lõi" trên tình trường?
Thật ra thì cứ nói yêu nhiều sẽ khôn ra, nhưng tôi vẫn thấy mình vẫn còn dại lắm, bạn bè tôi cũng hay nói tôi như vậy. Tôi thích cái đẹp, yêu những cô gái đẹp và nhiều khi có thể làm nhiều thứ điên rồ khi đã trót dính phải chữ tình. Bạn biết đấy, khó có ai yêu mà giữ được mình tỉnh táo, nhất là với người nghệ sĩ. Yêu ai, tôi cũng yêu bằng những rung động từ trái tim mình, lo toan, chăm sóc cho người yêu hết thảy, không tính toán gì hết nên nhiều khi hay nhận phải phần thiệt thòi về mình. Nhưng biết làm thế nào được, Đăng Nước trong tình yêu luôn nghe theo sự dẫn lời của trái tim.
- Những cô gái trót phải lòng nhạc sĩ có nói họ yêu ông vì điều gì không?
Yêu một người nào đó mà lý giải được vì điều gì thì thật khó khăn. Tôi hay rung động trước cái đẹp còn những người yêu tôi, họ nói tôi có tài và thật thà. Tài thì tôi xin để mọi người tự bình luận còn thật thà thì có lẽ những ai tiếp xúc với tôi đều biết. Tôi không tự tô "màu hồng" về mình trước các cô gái và nhiều khi bị nhận xét là sống chân chất như một anh nông dân. Tôi yêu ai thì sẽ theo đuổi người đó và cũng rất dễ mở lòng với những cô gái dành tình cảm cho mình. Có lẽ vì thật thà quá như vậy, nên tôi cũng không tránh khỏi những "vố đau" trên tình trường.
- Vậy là nhạc sĩ từng bị "lừa tình"?
Cũng có thể nói tôi bị "lừa tình", nhưng chung quy cũng là lỗi tại mình. Yêu người ta quá, tin tưởng người ta quá nên dễ bị lợi dụng. Chuyện xảy ra cũng cách đây mấy năm rồi nhưng tôi vẫn giấu kín trong lòng. Cô ấy sinh năm 1983, quê ở Nghệ An; là một phụ nữ đẹp, đẹp một cách kiêu sa và đài các. Ban đầu, cô ấy thông qua một học sinh của tôi đến nhờ dạy học đàn rồi "tấn công" tôi luôn. Mà tôi thì lại không thể dửng dưng trước một người con gái đẹp.
Tôi yêu cô ấy nhiều lắm nên trước khi dọn về ở chung cũng không tìm hiểu kĩ về gia đình, hoàn cảnh của nàng. Chúng tôi sống với nhau gần hai năm; cô ấy đòi sắm xe, sắm quần áo, trang sức… nhưng đều phải là hàng hiệu đắt tiền, rồi lại luôn viện cớ này cớ kia để xin tiền tôi. Vì yêu cô ấy, nên tôi không tính toán, tiền tôi kiếm được đều đưa cô ấy giữ hết. Vậy mà đùng một cái, khi chuẩn bị cưới, đã in thiệp mời xong xuôi, thì cô ta mới lộ ra là một "chuyên gia lừa đảo". Cô ta đã li dị chồng và có hai đứa con ở quê, những lần bảo có thai rồi sảy thai cũng là lừa tôi để "moi" tiền mà thôi.
- Khi biết sự thật, ông đã làm gì?
Tôi rất tức giận. Tôi đã nhờ một người bạn bên Công an điều tra và biết rằng ngoài tôi, cô ta cũng lừa hai người nữa với thủ đoạn tương tự. Ngã ngửa người vì đau đớn, tôi định thu thập chứng cứ để kiện cô ta ra tòa, vì biết đâu danh sách nạn nhân của cô ta ngoài ba người mới đây sẽ còn dài thêm nữa. Nhưng rồi, tôi biết thêm thông tin là con gái cô ta đang bị bệnh tim, cần số tiền lớn để sang Singapore mổ gấp nên lại thôi. Mình thương đứa trẻ vô tội, với lại dù sao cũng đã một thời gian "đầu ắp tay gối" với nhau như vợ chồng, mình làm vậy lại bất nhẫn quá.
Mặc dù đối với một nhạc sĩ kiếm sống chủ yếu bằng công việc giảng dạy, dựng chương trình như tôi, số tiền hơn 300 trăm triệu đồng là bao nhiêu công sức, mồ hôi nước mắt, nhưng so với số tiền để cho đứa trẻ đi mổ tim có lẽ chẳng thấm vào đâu. Hơn nữa, mình có thể lấy lại được số tiền đó nhưng cô ta sẽ phải đi tù, ai sẽ nuôi hai đứa con gái thơ? Cứ nghĩ như vậy, tôi để mọi chuyện trôi qua trong im lặng; coi như mình tha thứ, cũng coi như mình làm phúc!
- Nhạc sĩ và cô gái ấy còn liên lạc với nhau không?
Sau đợt đó, cô ấy cũng chủ động liên lạc với tôi mấy lần và hỏi sao tôi không làm to chuyện lên. Tôi nói với cô ấy là vì tôi thương đứa trẻ chứ không phải tôi không biết gì. Tôi còn khuyên cô ấy nên làm ăn lương thiện để chăm sóc các con và xây dựng gia đình. Tôi chỉ làm được đến thế thôi chứ biết rõ bộ mặt thật của người ta rồi thì dù yêu đến mấy cũng phải… "sợ".
- Sau lần bị lừa chắc ông cảnh giác với các cô gái đến với mình lắm?
Tôi không cảnh giác nhưng thận trọng hơn. Tuy nhiên, vốn sinh ra là kẻ đa tình rồi nên đứng trước một cô gái đẹp là vẫn cứ "chết đứ đừ"! (Cười).
Nhạc sỹ Đăng Nước thừa nhận mình là kẻ đa tình.


Cuối năm sẽ cưới người tình 9X
- Không phủ nhận nhạc sĩ là một người có tài, có những điểm hấp dẫn riêng nhưng để chinh phục các cô gái thời đại này thì không thể thiếu tiền?
Đúng vậy. Tiền có thể không mua được tình yêu nhưng là một trong những yếu tố quan trọng để vun đắp tình yêu. Bạn biết đấy, người yêu của tôi chủ yếu là sinh viên thuộc lứa tuổi 9x, lại sinh ra ở những vùng nông thôn gia đình không có điều kiện kinh tế. Nếu họ đã chấp nhận mình là người yêu thì mình cũng phải có trách nhiệm lo cho cuộc sống của họ để họ không phải khổ chứ. Với lại, tôi hơn người yêu nhiều tuổi nên cũng như một người cha lo cho con gái, là chỗ dựa vững chắc cho người mình yêu là hạnh phúc với tôi.
- Theo ông, có phải con gái bây giờ sống quá thực dụng không?
Đúng là thực dụng nhưng cũng chẳng có gì sai cả. Cuộc sống ở thành phố đắt đỏ với bao nhiêu thứ chi tiêu đòi hỏi người ta phải có tiền. Mà đâu phải, bạn sinh viên nào cũng đi làm thêm kiếm tiền được. Việc các cô gái sống dựa vào người yêu, cặp với các đại gia đã trở thành chuyện quá xưa rồi. Tôi cũng chẳng ngại khi người ta nói người yêu của tôi đến với tôi vì tiền. Quan trọng là tôi và cô ấy có những phút giây hạnh phúc bên nhau.
- Tình yêu với các cô gái 9x kém mình tới mấy chục tuổi như vậy có lúc nào khiến nhạc sĩ mệt mỏi không?
Tất nhiên là cái gì cũng có hai mặt. Nhiều lúc, tôi cũng thấy mệt thật nhưng mà vui. Những cô gái trẻ tuổi thì thường suy nghĩ đơn giản, vẫn rất vô tư và hồn nhiên nên làm mình cũng thấy như trẻ lại. Tuy nhiên, những lúc các cô ấy đòi hỏi, giận dỗi, nhõng nhẽo… thì cũng mệt ra trò đấy. Nhưng biết làm thế nào, tôi vốn có duyên với 9x mất rồi… (Cười). Mỗi lần tôi dẫn người yêu đi gặp bạn bè hay người thân, mọi người đều phải ngạc nhiên vì thấy người yêu mình trẻ quá. Họ hỏi tôi yêu người trẻ chắc phải lo giữ ghê lắm, rồi có hay ghen không? Thường thì người yêu của tôi mới hay ghen, còn tôi phải lo kiếm tiền lo cho cuộc sống, lo cho người yêu thì lấy đâu thời gian mà ghen.
- Sau nhiều năm sống độc thân và nhiều mối tình dang dở, nhạc sĩ vẫn chưa muốn xây dựng một gia đình thực sự và có thêm những đứa con sao?
Tất nhiên là muốn chứ, chỉ vì mình chưa tìm được đúng duyên phận thôi. Tôi và người yêu hiện tại đang có ý định cuối năm tổ chức đám cưới. Đến tuổi này rồi thì cũng nên có một gia đình ổn định, có thêm con cái nữa cho nhà cửa đông vui.
- Người yêu hiện tại của nhạc sĩ là một cô gái thế nào? Cô ấy có thực dụng không?
Tôi không phán xét người yêu mình bởi tôi yêu cô ấy và tất nhiên là muốn làm những điều tốt nhất cho cô ấy. Qua gần 1 năm gắn bó với nhau, tôi thấy cô ấy là một người thật thà, ngoan ngoãn, nếu trở thành một người phụ nữ gia đình cũng rất phù hợp. Tôi đã xác định lâu dài với cô ấy nhưng cũng chưa biết liệu có gì trắc trở nữa hay không.
Cảm ơn nhạc sĩ, chúc nhạc sĩ Đăng Nước sớm có một tổ ấm hạnh phúc!

Tình duyên còn nhiều phen lận đận
Nhạc sĩ đăng Nước tâm sự: “Tôi luôn thích những cô gái đẹp nhưng không có nghĩa là sẽ vứt bỏ người mình đang chung sống để chạy theo một cô gái khác. Cuộc sống ngoài tình còn nghĩa nữa, làm vậy tôi sẽ day dứt và không đành lòng. Thôi thì cứ vui với những điều mình có để mọi chuyện đến đâu tính đến đó. Tình yêu thực sự luôn để lại dấu ấn sâu sắc lắm. Sau mối tình đầu bị gia đình người yêu từ chối chỉ vì mình nghèo tôi cảm thấy chán nản và không còn thiết tha gì với tình yêu nữa. Phải tới tận 6 năm sau khi vết sẹo đã lành tôi mới có thể mở lòng mình và tiếp nhận một tình yêu mới. Đến giờ nghĩ lại mới thấy nếu so sánh thì lúc còn thanh niên chuyện tình duyên của tôi lại không được may mắn như thời điểm hiện tại. Số tôi, theo như thầy bói nói thì vẫn còn nhiều phen phải lận đận về tình duyên nữa…”.

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

NGƯỜI XƠ XÁC VÌ THƠ

Jun 15, 2013

Người xơ xác vì thơ

Ngô Minh
NQL: Nhà thơ Lê Đình Ty đã ra đi lúc 20 giờ ngày 13/6/2013 tại Bệnh viện Cu Ba, thị xã Đồng Hới, sau một tai nạn giao thông. Ông sinh ngày 01/08/1947, hưởng thọ 67 tuổi. Xin gửi tới chị Thêm ( vợ nhà thơ Lê Đình Ty) và gia đình lời chia buồn sâu sắc nhất. Cầu cho anh Lê Đình Ty bình an ở chốn vĩnh hằng!


Trong bài thơ “ Phỏng vấn Thạch Quỳ” tôi có viết : Nếu được tái sinh xin lại làm thi sĩ / Để được tự do xơ xác vì thơ. Thực ra thì nhà thơ Thạch Quỳ ở Vinh chưa xơ xác mấy vì thơ . Trong số bạn thơ của tôi, có lẽ nhà thơ Lê Đình Ty  ở Đồng Hới là người  “xơ xác vì thơ” nhất. Lê Đình Ty làm thơ từ những ngày học lớp bảy trường làng , khi anh mới 16 tuổi ( 1963).

Năm 1964 , tôi lên học cấp ba ở trường huyện, chúng tôi phải học sơ tán ở làng Cổ Liễu, Liên Thủy. Trong lớp  học cấp 3 Lệ Thủy của tôi hồi ấy có rất nhiều bạn học giỏi văn như Lê Đình Ty, Đỗ Hữu Lời ( nhà thơ Đỗ Hoàng), Trần Văn Hải (nhà thơ Hải Kỳ), Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Hữu Xướng,Trần khởi.. Ở lớp tôi hồi đó, Lê Đình Ty là chủ soái thơ. Lê Đình Ty người làng Xuân Hồi, Liên Thủy lúc đó đã viết được cả tập thơ tình chép tay nắn nót trong vở học trò.  Sau này Ty  “bật mí” là hồi đó viết rất nhiều thơ để “tặng” Lâm Thị Mỹ Dạ ,  người bạn gái xinh đẹp cùng học cấp hai, mà đến giờ vẫn giữ không dám gửi ! Có lần trong lớp học, không biết Lê Đình Ty kiếm đâu được cuốn  “Yêu nhau nên biết” dịch của Trung Quốc, bọn con trai chuyền tay nhau đọc. Từ đó thằng nào cũng thích làm thơ tình. Ở lớp , ngoài tờ báo tường của Chi đoàn , chúng tôi tổ chức tờ báo tường riêng của “tổ văn lớp”. Tôi làm bài thơ “ Quê mẹ” theo “kiểu thơ” Tố Hữu, viết về Đại đội pháo binh Ngư Thủy quê tôi bắn cháy tàu chiến Mỹ   Khi bài thơ được dán lên báo tường, ngay ngày hôm sau Lê Đình Ty đã có bài “ phê bình” khen hết lời. Nào là “ tư tưởng lớn”, “ hình tượng đẹp”.... Rồi Ty kết luận rất đúng “mốt” của “nhà phê bình” thời bấy giờ:”Anh sẽ tiến xa hơn nữa trên con đường thơ ca !”. Bài “phê bình” dài mấy gang tay dán lên báo tường được cả lớp chen nhau đọc.
                                                                 
              Sống và viết sôi nổi từ thời ấy, nhưng Lê Đình Ty lại vô cùng lận dận trên con đường thơ ca. Đang học dở cấp ba, Ty nhập ngũ vào ngành công an. Anh được đi học một khóa nhiếp ảnh pháp y. Nhưng rồi Ty lại say mê chụp ảnh nghệ thuật, nên phải chuyển ra khỏi ngành công an, về công tác tại ngành văn hóa.  Lê Đình Ty sống nhiều năm ở Huế  Anh là  tay máy bậc 7, chuyện đi dạy nghề và chấm tay nghề  cho thợ nhiếp ảnh của tỉnh hàng năm. Anh nghệ sĩ nhiếp ảnh có hạng của hiệu ảnh Phú Xuân bên chân cầu Trường Tiền hồi chung tỉnh Bình Trị Thiên. Anh có bức ảnh nghệ thuật Hồn rừng được tặng Huy chương Bạc của Hội nghệ sĩ nghiếp ảnh Việt Nam năm 1996.   Giỏi nghề ảnh như thế dễ làm giàu lắm , nhưng Lê Đình Ty thì : Nợ cơm áo níu còng lưng bóng xế / Bao nỗi niềm gửi dấu trang thơ… Bởi mỗi lần gặp bạn bè , gặp người đẹp thì có bao nhiêu phim anh bấm bằng hết, rồi thức suốt đêm, cui cui tráng ảnh để kịp sáng mai đem tặng người đẹp , cùng với những bài thơ nóng hổi ở túi ngực bên  trái ! Có lần, hồi Ty đang quản lý hiệu ảnh nhà nước  trên đường Trần Hưng Đạo, Huế. Một đêm mưa, tôi, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng, Mai Văn Hoan đến phòng ảnh của Ty ( cũng là chỗ trọ) đọc thơ  với  nhiều người đẹp sinh viên. Ty bốc lên đẩy  giàn máy  ảnh của hiệu ra chụp. Khi mọi người đã lui rồi, tôi và  Ty  ở lại  để  rửa ảnh cho đến  2 giờ sáng, cho kịp sáng mai  tặng các nàng. Hồi đó làm gì  có Mililap như bây giờ. Muốn in ảnh phải pha thuốc, rồi nhúng từng  cái phim vào. Chờ ảnh hiện lên, tráng qua tráng về, khi rõ nét mới đưa ra sấy dưới ngọn đèn điện 500 oát.   Khổ thế mà say lắm, chăm chỉ lắm ! Vì thế nên người ta chụp ảnh ai cũng giàu , xây nhà mua xe, chỉ riêng Lê Đình Ty càng chụp ảnh càng nghèo rớt mùng tơi ! Vợ chồng đã sắm đủ loại máy ảnh xịn của Nhật, rồi sắm cả buồng tối để in sang ảnh ở nhà mình. Nhưng , do chụp ảnh ba phần tặng một phần lấy tiền nên sinh lỗ lã . Thế là  anh bán dần máy móc, chỉ còn giữ lại cái máy ảnh  để chụp chơi.
           Thơ phú còn làm anh bị tai họa thập tử nhất sinh bởi một con quỷ đội lốt người tình ! Năm 1983, Lê Đình Ty được Công ty nhiếp ảnh Bình Trị Thiên  cử ra làm Trưởng hiệu ảnh quốc doanh tại chợ Tréo, huyện Lệ Ninh ( cũ) . Một người con gái trắng trẻo , đã có chồng , do yêu thơ Ty, phục tài chụp ảnh của Ty , đã đem lòng thương trộm . Thi sĩ say thơ, say người đẹp bị hớp phải bùa mê . Bên bờ sông Kiến Giang ấy , Lê Đình Ty đã  làm tặng nàng nhiều bài thơ tình lửa cháy . Thế rồi chồng nàng phát hiện ra . Anh ta bắt vợ phải “thể hiện lòng chung thủy” . Thế là nàng đã đang tâm vô tận Huế mua một lọ a-xit . Rồi một đêm “nàng” hẹn Lê Đình Ty gặp  nhau tại bờ mương An Xá. Con quỷ đã tạt a xít vào mặt người mà  trước đó mình đã yêu nồng thắm . Lê Đình Ty bị cháy xém mặt mày , phải điều trị khắp nơi mấy năm trời mới lành vết thương. Nhưng khuôn mặt thì thành sẹo. Đó là “ cái sẹo thơ” oan nghiệt mà anh phải mang suốt đời. Từ đó, bao nhiêu tiền của đều chi cho việc chữa bệnh. Lành vết thương cơ quan xét cho anh về hưu non. Thời điểm đầu năm 2005, lương anh tháng chỉ 320 ngàn đồng . Nhà đã nghèo, lại nghèo thêm .   Tôi ốm đau chẳng làm gì được / Vợ một mình chạy bảy miệng ăn , nên anh đau xót khi nghe con gái nhỏ năm sau tuổi  ra đường ngồi bán nước , báo tin “vui”  cho bạn bè : Giữa trưa hè dầm dề áo ướt / Được hai đồng, mừng rỡ con khoe... Trong bài thơ “Cảnh nhà” , cảnh tượng còn thương cảm hơn :  Vợ trực về nhịn đói /  Lo chạy bữa ngày mai...  Bà vợ phải vừa đi làm việc nhà nước, về trồng rau, nuôi heo gà, đi hái củi bán mới trang trải đủ chi tiêu  tằn tiện của gia đình.
         Cái thời khốn khó ấy, bạn bè cũng chẳng khá hơn. Có mấy đứa bạn thân cùng trường huyện xưa đang làm thơ ở Huế thì đứa nào cũng đeo đuổi thơ phú,  đứa nào cũng nghèo , lấy ai cậy giúp ! Bài thơ “ Cùng cảnh”, tặng Hải Kỳ kể chuyện Hải Kỳ đi học đại học sư phạm ở Huế, vợ ốm cần phải ra Đồng Hới thăm vợ , mà chẳng có đồng dính túi. Lê đình Ty đến thăm bạn, tuid cũng chỉ “đầy gió căng phồng: Cuối cùng hai đứa bèn quyết định “ Liều một chuyến nhảy tàu !”   Thật xót xa và đồng cảm !

            May mà Lê Đình Ty có người vợ  tuyệt vời. Một người vợ Tám Cám, rất mực thương chồng, thương con , nên bao nhiêu nỗi đau đớn, túng bấn đều được hóa giải !. Y sĩ điều trị Nguyễn Thị Thêm vợ Lê Đình Ty làm việc ở Phòng khám Cán bộ Đồng Hới, mặc cho thiên hạ dèm pha, đã tận tình chữa trị, chăm sóc chồng . Thêm nhiều lần vay mượn tiền bạc đưa chồng ra Hà Nội vá da mặt. Những ngày đó, có lần tôi từ Huế ra thăm Ty . Anh ngồi trong một khung màn   để che ruồi như cái lồng bàn , vì vết thương đang sưng tấy . Chồng bị nạn vì thơ, người làm thơ như tôi là những kẻ “tòng phạm” đến nhà phải “ ghét” mới đúng. Thế mà Thêm vẫn tươi cười pha nước mời, rồi bảo tôi “Anh  ngồi chơi nói chuyện với anh Ty, em ra đây một lát về ngay”. Thì ra nàng lẻn đi mua đĩa mồi, xị rượu mang về, bảo tôi: ”Anh Ngô Minh ngồi chơi uống rượu, đọc thơ cho anh Ty nghe, anh ấy đang thèm thơ lắm đấy !”. Chao ôi, một tình yêu, một tấm lòng. Cao hơn, một tầm văn hóa bao dung mênh mông!

                 Sau tai nạn ấy, Lê Đình Ty không thể đi  làm cơ quan được , phải về hưu mất sức hai trăm ngàn đồng một tháng. Đến nay thì  lương hưu của Ty  cũng chỉ 680 ngàn  đồng ! Con thì ba đứa đang nhỏ, nên gia đình càng khó khăn hơn . Nhưng anh vẫn không bỏ thơ . Hình như thơ đến với anh còn nồng nàn hơn trước . Tuy muộn mằn so với bạn bè cùng lứa nhưng đến nay anh đã xuất bản được 6 tập thơ, trong đó có tập Tôi về áo ướt được tái bản. Tập thơ Khoảng vắng ( 1995) của Lê Đình Ty được Giải thưởng Lưu Trọng Lư ( Quảng Bình) lần thứ nhất ( 1991- 1995).... Anh còn có hai tập thơ thiếu nhi “ Gió ở đâu “ ( 1998) và truyện thơ “ Huyền thoại Bàu Tró” ( 1999) được bạn đọc đánh giá cao . Đó là sự kỳ lạ của khả năng vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của con người . Tôi kể lan man như vậy để muốn nói một điều : Đối với Lê Đình Ty thơ chính nghiệp chướng , là định mệnh không thể chối bỏ : Đây , câu thơ / Giọt máu  / Câu thơ đẫm đầy nước mắt ...Riêng đối với tôi, mỗi bài  thơ của Lê Đình Ty là sự trổ bông của một trái tim đau đớn một đời đập vì yêu, vì sự tốt lành của cuộc sống !
             Hội Văn nghệ Quảng Bình bảo Lê Đình Ty làm đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ty xứng đáng lắm, nhưng  ham thơ, ham rong chơi, cứ quên không  làm đơn. Mới đây Ty làm cái đơn và gửi vào Huế nhờ bạn là tôi và nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là bạn thân ký giới thiệu để kỷ niệm bạn bè. Mỹ Dạ bận đi họp  ‘’ Hội nghị phụ nữ tiêu biểu’’ ở Hà Nội . Hoàng Phủ Ngọc Tường hỏi, đơn ai thế. Tôi bảo đơn xin vào Hội của Lê Đình Ty, gửi vào nhờ Dạ ký ‘’. Hoàng Phủ bảo  tôi : ‘’ Lê Đình Ty mới là nhà thơ thực sự, hắn sống chết vì thơ . Đem đây mình ký thay Mỹ Dạ’’. Thế là ông Tường liệt nằm một chỗ, lật nghiêng người  ghi ‘’Đề nghị kết nạp ‘’ rồi ký tên, chữ cong queo, võng xuống như nỗi đa mang. Tôi mang ra Đồng Hới cho Ty, Ty cầm tờ giấy có chữ ký Hoàng Phủ reo lên :’’ Được Hoàng Phủ Ngọc Tường ký giới thiệu như ri là  sướng lắm rồi. Như là một lần vô Hội rồi... » 
           Xuất bản được tập thơ thơ bây giờ thật không dễ . Sau khi có giấy phép , còn phải vượt qua chặng “ đầu tiên” là tiền đâu. Để in tập thơ “ Lời hạt” , Lê Đình Ty phải thế chấp “thẻ đỏ ”nhà , mới vay được 3 triệu tiền ngân hàng để in thơ ! In xong thơ là gửi tặng bạn bè, lại phải một lần tốn phí bưu điện , rồi lại  còng lưng làm vườn, nuôi gà, lợn, nuôi cả cá  rô phi đơn tính để trả nợ thơ .  Tập thơ  Lời hạt  gồm những bài thơ viết trong những tháng ngày anh bị “tại nạn tình yêu” đến thay đổi hình hài, trong lúc cảnh nhà túng bấn . Đó  Là những suy nghĩ về đời và thơ, về số phận và tình yêu của con người đã vào tuổi tri thiên mệnh  Đó là tâm sự riêng của đời anh. Tai ương, khốn khổ và day dứt tình đời, tình người. Thương cho kiếp người phù du khát vọng, thương cho những đứa con xa luôn đau đáu một làng quê, thương bóng hình mẹ già côi cút vô ra nơi cõi nhớ, thương những người tình với nỗi buồn làm hành trang còn lại... Thơ là sự chiêm nghiệm , là một cuộc trở về từ trong cõi lãng du phiền muộn, cầm lên những mất mát và soi tận cõi lòng :...Ai sau rèm cấm xa xôi / Nhớ người áo ướt dưới trời đem hong?

               Thời “di động”, Lê Đình Ty nghèo , thèm lắm mà không làm sao có con dế  cầm tay để gọi bạn bè. Thương bạn , nhà văn Nguyễn Thế Tường bán rẻ cho Ty  một cái Samsung có hai trăm bạc. Lúc đầu Ty chỉ dám mua loại card chỉ để nghe, không gọi được. Những khi có tiền nhờ nghề làm mi, in ấn sách cho các tác giả, Ty mua cái card trăm ngàn, thế là hứng lên gọi ai cũng đọc thơ qua di động. Chỉ ba bốn bài thơ đã hết nửa tiền card. Thế rồi lần ấy  Ty say, ngã xe , con dế biến đi đâu mất, phải nhịn gọi  ba tháng trời. Tôi ra Đồng Hới, thấy bạn mà thương , tôi liền nghĩ ra một kế : Chỉ có  mấy trăm trong túi, nhưng tôi dẫn  Lê đình Ty đi thăm bạn bè, gặp ai tôi cũng bảo :” Ty mất điện thoại rồi, tớ ủng hộ nó ba trăm, cậu cho thêm một ít nữa cho nó mua cái điện thoại cũ kẻo tội”. Thế mà ngày đó hai đứa kiếm được triệu tư bạc. Chiều hai đứa lại vênh vang ra của hàng viễn thông mua dế…
           Buồn quá, nhưng xem ra tất cả vẫn còn . Một người “sau rèm cấm”,  tấm “áo ướt”, và người tình trắng tay đang đem hong lại niềm yêu mến cũ ... Ty say thơ đến độ, vào cuộc rượu nào ban đầu cũng rất gìn giữ, chối từ,  nhưng khi đã đọc vài bài thơ thì “rượu như lửa tôi uống tràn thay nước” ( Phùng Quán). Thế là Ty say. Vì say, trong năm năm qua, Ty đã sáu lần ngã xe máy rồi. Khi thì gảy xương vai, khi thì bươu đầu, mẻ trán. Nhưng may toàn vết thương nhẹ, nằm nhà vợ điều trị năm bữa nửa tháng lại lang thang. Có lần tan cuộc rượu, đang lẽ về nhà theo hương núi, thì Ty lại  lao xe ra vùng cát Hải Thành mé biển giữa trưa hè “chang chàng cồn cát nắng trưa Quảng Bình “. Xe lủi vào ụ cát bên đường, Ty ngã bắn người ra nằm phơi trên cát bỏng. May nhờ có người đi qua, nhận ra nhà thơ, liền gọi  taxi đưa về nhà, chứ để  đến chiều chắc đã thành “Khô Ty” rồi ! Có lẽ Ty đã quá xơ xác vì thơ, nên  bây giờ thơ đã cứu Ty chăng ?
                                                        
           Vâng, trong bài đồng dao miền Trung kể về mẹ gà đẻ  ấp mười quả trứng, cả mười đều bị hiểm họa và rủi ro số phận, nhưng: Chớ than phận khó ai ơi / Còn da lông mọc ,còn chồi nảy cây... Mất mà được .Đó là cái lý sinh tồn mà chỉ nghệ thuật mới nói lên được, nhờ cái tâm lớn của nghệ sĩ !  Cái còn lại ấy , cõi lòng ấy chính là sợi chỉ xuyên suốt thơ  Lê Đình Ty . Không mà có , ấy là khi cõi lòng còn chan chứa !

          Bây giờ anh vẫn yêu si mê như thế. Vẫn làm thơ như thế. Anh đi lên Hồ An Mã miền Trung Du Lệ Thủy, anh ra tận Minh Hóa theo tiếng gọi của con tim. Di rong chơi suốt ngày.  Để rồi cuộc rượu vui nào anh cũng có thơ mới đọc cho bạn bè làm thức nhấm...Ôi, thời bây giờ, ai cũng lo  kiếm tiền làm nhà, cho con đi du học. Người sống nghèo với chất thi sĩ lãng tử nồng nàn như Lê Đinh Ty hiếm hoi lắm . Nhờ những cuộc say ấy, năm   2007,  Lê Đình Ty cho ra mắt tập thơ  Gửi cùng ngọn gió, với  chất  thi sĩ tang bồng :  Ngồi buồn bấm chữ mà chơi / Gửi người người có ngậm ngùi cùng ta...
             Thương lắm, bạn của tôi ơi..

        Huế 2003- 2007

P/s: Ngày mai Ngô Minh sẽ ra Đồng Hới để  viếng Lê Đìng Ty. Bạn bè thân thiết ai muốn chia sẻ tình cảm của mình với Lê Đình Ty xin chuyển vào Tài khoản của Ngô Minh : Ngô Minh Khôi- 55110000166704- Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Chi nhánh Thừa Thiên Huế. Xin cảm ơn.
Theo blog Ngô Minh
Đánh giá:
 (rating: 4.8 | 13 votes | 2039 views)

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Bài phát biểu của nhà thơ TRẦN ĐĂNG KHOA tại Pháp


Link cố định 25/05/2013@14h00, 3726 lượt xem, viết bởi: LÃO KHOA
Chuyên mục: Nhật ký

Lão Khoa đang tham dự cuộc gặp gỡ các nhà thơ thế giới tổ chức tại Pháp từ ngày 22-5 đến 02-6. Đoàn Việt Nam có Lão Khoa và nhà thơ Nguyễn Bảo Chân. Nhân dịp này, mời bà con theo dõi lời bài phát biểu của lão trong cuộc gặp mặt này. Đây cũng có thể xem như một quan điểm của lão về một mảng của loại hình văn học nghệ thuật phức tạp nhất và cũng sinh động nhất


VÀI NÉT VỀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI


TRẦN ĐĂNG KHOA

Trước hết, tôi xin cám ơn các quý ông, quý bà và các bạn đã dành cho tôi ít phút nói về thơ Việt Nam tại diễn đàn này. Tôi cũng xin chân thành cám ơn ông Francis Combes và Hiệp hội thơ vùng Val de Marne đã tạo điều kiện cho tôi có dịp được đến thăm nước Pháp, một đất nước tuơi đẹp và văn minh, mà ở thời đại nào cũng có những con người khổng lồ trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong văn chương và nghệ thuật.
Ở đất nước chúng tôi, những ai từng ham mê văn chương, nghệ thuật, từ trẻ đến già, không ai không biết tên tuổi và tác phẩm của các nhà văn Vichto Huygô, Ônôrê đơ Bandắc, Guyđơ Môpatsăng, Anphôngxơ Đôđê, Stangđan, Guytxta Flôbe. Alechxangdr Đuyma... các nhà thơ Rimbo, Verlen, Apoline, Lui Aragông... và còn rất nhiều, rất nhiều các nhà văn nhà thơ khác từ lâu đã trở nên thân thiết với mọi tầng lớp độc giả nước tôi.

Tôi đến với thơ ca từ những năm 60, 70 của thế kỉ trước, khi còn là một cậu bé 8 tuổi đang học lớp 2 trường làng. Lúc bấy giờ bom đạn mù mịt, đất nước tôi đang ở trong giai đoạn căng thẳng nhất của lịch sử hiện đại, bọn trẻ chúng tôi ăn đói, mặc rét, sống ngày nào biết ngày ấy, vì cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Bởi thế, không phải chỉ người già, mà ngay cả trẻ con cũng chẳng đứa nào dám nghĩ mình có thể sống được đến ngày không còn bom đạn, được chạy nhảy vui chơi trên mặt đất, được đi thung thăng dưới ánh nắng mặt trời. Và cũng từ những năm gian nan vất vả ấy, tôi bắt đầu làm thơ. Và tôi cũng không ngờ những bài thơ thuở thơ ấu của mình từ một làng quê bé nhỏ hẻo lánh lại được bạn đọc của nước tôi đón nhận nồng nhiệt và được dịch ra trên 40 thứ tiếng trên thế giới. Và nước đầu tiên dịch thơ tôi, may mắn thay lại là nước Pháp, đất nước mà tôi coi là kinh đô của nền văn chương thế giới. Bắt đầu là chùm thơ in trên báo “Nhân đạo” năm 1968, do nhà thơ nhà báo Mađơlen Riphô dịch, giới thiệu và sau đó là tập thơ “Tiếng hát kế tục”, mà tôi có tới 35 bài. Cũng năm đó, hãng Truyền hình pháp đã làm một cuốn phim tài liệu dài 30 phút về tôi. Bộ phim mang tên “Thế giới nhỏ của Khoa” (Le petit monde de Khoa) do đạo diễn GERARD GUILLAUME trực tiếp viết kịch bản và lời bình. Bộ phim này đã được phát trên các kênh truyền hình Pháp và Châu Âu theo lời giới thiệu của nhà thơ Xuân Diệu, vào thời điểm giao thừa ngày 1-1-1969. Sau 40 năm, cuốn phim tài liệu đó mới xuất hiện trên kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam VOV và thành một hiện tượng có sức ám ảnh rất mạnh đối với khán giả, đặc biệt là những người dân ở quê tôi. Nhiều người xem đã khóc vì bất ngờ gặp lại người thân của mình. Hầu hết các nhân vật của phim đã chết. Trong đó, có nhiều liệt sĩ mà bây giờ vẫn chưa tìm được hài cốt. Bộ phim đã hóa thành một viện bảo tàng, lưu giữ những vẻ đẹp sống động của con người và cảnh sắc một làng quê Bắc bộ, mà giờ đây không còn nữa.
Từ diễn đàn này, cho phép tôi được cám ơn Đạo diễn Giê ra guy ôm, nhà thơ Frangxoa Cozơ, nhà thơ, nhà báo Mađơlen Rifô, nhà thơ Clôt đơ Pari, nhà thơ Michelle Sullivan ...và nhiều nhà thơ khác, đã đưa thơ tôi đến với bạn đọc Pháp. Tôi cũng cám ơn họa sĩ Đô mi ni cơ Đơ mit xcô gần đây cũng đã biến thơ tôi thành những bức tranh góp mặt trong triển lãm nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Paris
Tôi xin lỗi là đã lạm dụng sự ưu ái của các quý vị, đã lan man quá dài những chuyện ngoài lề. Bây giờ, tôi xin đi vào chuyện chính. Tôi xin góp đôi lời giới thiệu một cách tổng quát về thơ ca hiện đại Việt Nam, theo sự cảm nhận của riêng tôi. Đây là một đề tài rất cụ thể nhưng cũng vô cùng phức tạp. Và ở đất nước tôi, trong suốt mấy thập kỷ qua đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận thậm chí rất gay gắt và dường như chẳng bao giờ có tiếng nói cuối cùng ở mảng đề tài này.
Thưa các quý vị!
Như trên tôi đã nói, đất nước tôi liên miên trải qua các cuộc chiến tranh, nên các nhà thơ, đặc biệt là các nhà thơ hiện đại đã chọn cho mình một con đường chính chủ đạo là lấy thơ làm phương tiện phục vụ đất nước, phục vụ cuộc kháng chiến của toàn dân. Dường như đây là tâm thức của toàn bộ dân tộc chúng tôi thời bấy giờ. Nên rất khó có thể nảy sinh những con đường khác. Một số tác giả cũng cố cưỡng lại nhưng nhanh chóng thành lạc lõng nên cuối cùng họ cũng lại hoà theo cái dòng chảy cuồn cuộn ấy. Tuy vậy trong nền thơ chúng tôi bấy giờ, cũng có những cánh cửa sổ trổ ra hướng khác, như một số tác phẩm của các thi sĩ sống trong các vùng đô thị Miền Nam trước đây, hay phong trào Thơ Mới giai đoạn 1932-1945, mà ai cũng nhận ra những ảnh hưởng rất tốt đẹp của nền thơ ca vĩ đại của Pháp.
Phong trào Thơ Mới rất rực rỡ này có nhiều thành tựu đặc sắc, trong đó có không ít tác giả, tác phẩm có sức sống vĩnh cửu với thời gian. Nhưng đó vẫn không phải là âm hưởng chủ đạo của cả nền thơ trong những năm chiến tranh. Bởi chính những nhà thơ mới ấy sau này cũng lại tự chuyển hướng, để hoà chung vào dòng chảy cuồn cuộn của toàn dân tộc. Tất nhiên, đối với thơ ca, hay văn học nói chung, một phong trào rầm rộ với số lượng tác phẩm đồ sộ cũng sẽ chẳng nói lên được điều gì cả, nếu như tác phẩm không hay. Chúng tôi cũng rất hiểu thế nào là nghệ thuật đích thực, nhưng cao hơn nghệ thuật lúc bấy giờ lại là sự sống còn của Tổ quốc. Nhân dân khi ấy rất cần sự động viên, an ủi, kể cả sự cổ động. Có một nhà thơ rất nổi tiếng của chúng tôi là ông Chính Hữu đã nói thẳng ra trong một bài thơ rằng:
Tôi viết bài thơ
Ghép bằng khẩu hiệu

Tất nhiên đó là những khẩu hiệu viết bằng tâm hồn, chứ không phải lý trí. Cũng không phải chỉ có Chính Hữu, rất nhiều nhà thơ khác nữa cũng rất sung sướng làm cái công việc đi ghép khẩu hiệu như thế. Bởi người dân lúc bấy giờ cần khẩu hiệu hơn là những nỗi niềm vân vi mây gió. Có khi chỉ vịn vào một khẩu hiệu là đã có được một niềm tin, một sức mạnh có thể vượt qua gian lao, vượt qua cả cái chết. Chúng tôi phải hy sinh rất nhiều để có được những tác phẩm thực sự có ích như thế đối với nhân dân. Chúng tôi cũng lấy sự có ích, sự trung thành với Tổ Quốc và nhân dân trong việc phục vụ những nhiệm vụ trước mắt làm thước đo đánh giá mọi tác phẩm ở trong thời điểm cụ thể ấy. Trong số những sáng tác ấy, cũng có không ít tác giả, tác phẩm vượt qua các sự kiện báo chí để có sức sống lâu bền. Một nhà thơ rất lớn của chúng tôi là ông Chế Lan Viên, người đã từng nhiều lần sang Pháp và có nhiều thơ được dịch sang tiếng Pháp, đã viết:
Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung gương mặt
Nụ cười tiễn đưa con ngàn bà mẹ in nhau...

Một đất nước có chung tâm hồn là cái bên trong, chung gương mặt là cái bên ngoài, lại chung cả những nỗi niềm riêng tư là nụ cười tiễn đưa con ra trận, thì thơ ca tất sẽ rất giống nhau. Điều ấy cũng dễ hiểu. Bởi vậy, Tế Hanh, một nhà thơ cũng rất nổi tiếng của chúng tôi, một người rất thực thà, đã viết một câu thơ, như là một phát hiện về một điều hiển nhiên mà ai cũng thấy:
Đọc câu thơ đồng chí ngỡ thơ mình
Ấy là nói một cách tổng quát. Còn cụ thể trong từng trường hợp, ở những nhà thơ lớn có cá tính sáng tạo đặc sắc thì vẫn có những giọng điệu hoàn toàn khác nhau, nhưng âm hưởng vẫn rất gần nhau. Và như thế, có thể nói, trong những năm chiến tranh, dường như chúng tôi chỉ có một dòng thơ chính. Và đó cũng là dòng văn học lớn của nhân loại: Dòng văn học yêu nước, bảo vệ Tổ Quốc, và chống lại các thế lực xâm lăng. Đây là mặt mạnh của chúng tôi và đồng thời cũng là mặt có phần nào hạn chế của chúng tôi khi hội nhập toàn cầu. Đặc điểm này kéo dài cho đến tận năm 1975.
Sau khi thống nhất đất nước, đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986, thơ ca của chúng tôi đã có những bước phát triển mới rất đa dạng về giọng điệu cũng như phong cách. Bây giờ, ở đất nước tôi có bao nhiêu nhà thơ thì có từng đấy cách quan niệm về thơ. Không ai giống ai. Nội dung thơ cũng thay đổi. Có điều trước đây hay được quan tâm, bây giờ thấy nhạt. Có những vấn đề trước đây e ngại bây giờ lại được khám phá. Nghệ thuật thơ cũng thay đổi rất nhiều. Có thơ truyền thống. Có thơ hiện đại. Rồi thơ hậu hiện đại. Thơ không vần trước đây xuất hiện dè dặt, bây giờ ra đời ào ạt và trở thành tiếng nói chủ đạo. Có nhà thơ còn quan niệm thơ hay phải là thơ không thể hiểu được. Càng bí hiểm càng tốt. Không ít bài thơ cứ như những câu đố không có lời giải. Hỏi, tác giả cũng không biết gì hơn. Ông bảo, nếu ông biết bài thơ nói gì thì ông đã nói toẹt ra rồi, còn làm thơ làm gì nữa. Ngược lại, có nhà thơ lại tìm đến sự giản dị, khai thác những số phận riêng của mỗi con người. Có bài thơ như truyện ngắn, hoặc như cả một cuốn tiểu thuyết, có cốt truyện, có nhân vật, có mở, có thắt. Nếu nhà tiểu thuyết có thể triển khai thành một cuốn sách dày đến mấy trăm trang, thì nhà thơ chỉ viết hơn chục câu thơ, vỏn vẻn chừng vài chục chữ. Vậy mà bài thơ vẫn không bị văn xuôi hoá, vẫn tự sống được. Cốt truyện, nhân vật chỉ là cái cớ để thi sĩ bộc lộ tài thơ của mình. Cũng có nhà thơ không quan tâm lắm đến cấu tứ, ngôn ngữ. Ông chỉ muốn bài thơ mang đến cho bạn đọc một ấn tượng gì đó. Và chỉ thế là được rồi. Rồi thơ tượng trưng, thơ siêu thực, thơ ấn tượng, thơ vị lai… Nói như một nhà thơ và nhà nghiên cứu thì tất cả các trường phái và phương pháp của thơ ca thế giới trong suốt một thế kỷ qua đều chen chúc thử nghiệm và gây ảnh hưởng ở Việt Nam trong một quãng thời gian rất ngắn. Và thơ xuất hiện rất nhiều. Tính trung bình mỗi ngày, tôi nhận được từ hai đến ba tập thơ của các tác giả gửi tặng. Rồi thơ trên truyền hình. Thơ trên đài phát thanh. Thơ trong câu lạc bộ hưu trí, câu lạc bộ của các nhà khoa học, của các tầng lớp học sinh, sinh viên. Rồi thơ trên các báo. Nước chúng tôi có đến trên 800 tờ báo. Hầu như tờ báo nào cũng dành riêng một ít trang để đăng thơ, kể cả những tờ báo chuyên ngành, rất xa với văn học. Ở Quảng Ninh, một tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, nơi có Vịnh Hạ Long rất nổi tiếng được UNESCO hai lần công nhận là di sản thế giới, còn có một ngày hội dành riêng cho Thơ và các nhà thơ. Đó là ngày 29 tháng Ba hàng năm, từ năm 1988. Ngày đó, thơ ngự trị trên mọi phương tiện truyền thông và trên khắp mọi địa bàn trong tỉnh. Ngày thơ ấy, 15 năm sau, từ năm 2003, đã được nhân rộng ra thành một lễ hội thi ca của cả nước. Đó là ngày Rằm tháng Giêng hàng năm. Việc xuất bản thơ ở đất nước chúng tôi bây giờ cũng rất dễ dàng. Tác giả chỉ cần bỏ ra vài triệu đồng tiền Việt Nam, khoảng 200-300 Euro là đã có thể có được một tập thơ với gần 1000 bản in rồi. Ấy là chưa kể hàng loạt các trang Blog, có thể xem như những tờ báo tư nhân, có thể công bố thơ trên đó. Nhiều tác giả còn tự dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, in song ngữ. Và như thế, chỉ một bước, tác giả đã đến thẳng với bạn đọc thế giới. Trước đây, nhà thơ Trần Dần của chúng tôi có câu thơ rất đau xót:
Tôi khóc những những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời…

Bây giờ thì ở đâu cũng là “chân trời” cả. Chân trời ở ngay dưới chân mình. Chỉ có điều, mình có đủ sức để mà bay hay không?
Việc đánh giá thơ ở đất nước tôi bây giờ cũng rất khó. Hầu như không tìm được tiếng nói chung. Nhiều cuộc tranh luận gay gắt dẫn đến cãi vã cũng thường bắt đầu từ thơ. Đó là sự va đập giữa các khuynh hướng nhằm muốn tự khẳng định, gây ảnh hưởng trước công chúng, có khi gay gắt dẫn đến triệt tiêu nhau. Tất cả các cuộc tranh luận này rốt cuộc dường như vẫn bỏ ngỏ, không có kết luận và cũng không có tiếng nói cuối cùng.
Trong cái sự ồn ào có tính báo chí đó, cũng có không ít các nhà thơ của chúng tôi chỉ im lặng sáng tạo và quan tâm đến những vấn đề lớn hơn, là giữ gìn bản sắc dân tộc và tìm cách hoà nhập với thế giới rộng lớn. Đây là một vấn đề cấp bách, mang tính toàn cầu.
Nhưng làm thế nào để đến được với thế giới rộng lớn? Đó lại là một câu hỏi không dễ trả lời. Qua những nhà thơ lớn thế giới, chúng ta thấy những tác phẩm còn lại được với thời gian, thành di sản văn hoá của nhân loại, đều rất giản dị, trong sáng, mang những buồn vui, khát vọng của nhân dân và của nhân loại. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, R. Tagore, A. Puskin, V. Huygô, A. Rimbo, Pon Veclen, Apoliner, Sile, Gớt, Henrich Hainơ, Béctôn Brếch… đều là những nhà thơ như thế. Đọc những bậc thiên tài ấy, tôi đều thấy họ học nhiều, đọc nhiều, biết nhiều, đi cũng nhiều và đặc biệt là nghĩ rất nhiều. Giữ gìn bản sắc dân tộc không có nghĩa là cứ đóng cửa, thở mỗi bầu khí quyển của riêng mình, mà là mở rộng mọi cánh cửa để đi ra với thế giới rộng lớn. Và rồi bằng con mắt của thế giới rộng lớn có tầm vóc nhân loại ấy mà nhìn lại cảnh sắc thiên nhiên và con người của quê hương mình, đất nước mình.
Chỉ có như thế, những tác phẩm cụ thể viết về những con người cụ thể, những cảnh sắc cụ thể của quê hương mình mới vượt qua được biên giới riêng của mỗi quốc gia, thậm chí mọi biên giới của thời gian mà đến được với toàn nhân loại…
Paris 25-5-2013

Cảm nhận:

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013

Nguyễn Văn Nam học sinh lớp 12t7 TRường thpt Đô lương1


Trước linh hồn em Nam, hãy biết xấu hổ cúi đầu

(VOV) - Tấm  gương xả thân của Nguyễn Văn Nam khiến ta phải day dứt tự vấn rất nhiều.
Mấy hôm nay, giữa muôn vàn sự kiện xảy ra khiến những người có lương tri và quan tâm đến thời cuộc phải trăn trở, tôi cứ bị ám ảnh bởi tấm gương hy sinh cao cả của em Nguyễn Văn Nam, học sinh lớp 12 T7, trường THPT Đô Lương 1, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Chiều 30/4/2013, tại khu vực bến đò Cung, xã Trung Sơn, Nam đã dũng cảm cứu 5 em nhỏ khỏi đuối nước và hy sinh. Em hiến dâng cuộc sống quí báu của mình cho 5 em bé khác, cho dù các em không phải ruột thịt của mình. Sự hy sinh cao cả của con người giàu lòng nhân ái đó làm rung động lương tri mỗi người...

Nguyễn Văn Nam khiến chúng ta  kính phục, xúc động, xót thương và nuối tiếc. Nếu sống tiếp trên đời, chắc chắn em sẽ là một người tốt. Cho nên, với bố mẹ và những người thân của em, đây là mất mát không gì bù đắp được. So với Nam, mọi thứ, với họ, chả có ý nghĩa gì.

Tôi nghĩ về Nam, và nghĩ về các em bé khác, nghĩ về chính mình và các con của mình, tự nhiên tôi thấy xấu hổ với em và với bố mẹ em.

Có lẽ tôi không đủ tốt để hiến dâng cuộc sống của mình cho người khác nếu rơi vào hoàn cảnh như em. Đặt mình trong cương vị của người cha, tôi xin cung kính nghiêng mình trước tầm vóc nhân cách của bố mẹ em, những người dân bình thường ở một vùng quê bình dị, thiếu thốn hơn thành thị rất nhiều, đã sinh ra và nuôi dạy nên một thiên thần như vậy.

Tôi cứ băn khoăn tự hỏi, liệu Nguyễn Văn Nam có phải là sản phẩm tiêu biểu của nền giáo dục này không hay chỉ là một sản phẩm tốt đặc biệt đến mức cá biệt.

Tôi sẽ lôi kéo mọi người vào một cuộc tranh luận không bao giờ kết thúc nếu vội vàng kết luận, tuy nhiên có thể nói rằng em không phải là một sản phẩm phổ biến trong bối cảnh xã hội bây giờ.

Nếu là cha mẹ, liệu bạn có dạy con mình phải biết hy sinh cho đồng loại hay không?

Tất nhiên, không cha mẹ nào đưa ra tình huống như Nam gặp phải với con mình để bảo chúng phải lựa chọn, nhưng liên tục nuôi dưỡng các em bằng  những  điều tốt đẹp thì các em sẽ làm những điều tốt đẹp như thế.

Chúng ta phần lớn đang sống cho mình, vì lợi ích của mình, của phe nhóm mình... Thậm chí nhiều người coi đây là một chuẩn giá trị mới, khác với những gì mà  những thế hệ đi trước đã học và đã tận mắt chứng kiến.

Có rất nhiều lý do khiến cho trẻ em bây giờ trở nên vô cùng ích kỷ, chỉ quan tâm đến bản thân mình, thoả mãn bản thân mình, ít nghĩ đến ông bà, cha mẹ, anh em chứ chưa nói đến những người không phải thân thuộc, ruột thịt. Ngoài sự tác động của một xã hội đang chuyển đổi rùng rùng, có một phần do các bậc cha mẹ thể hiện tình yêu không đúng cách, quá nuông chiều con và hoàn toàn i tờ về phương pháp giáo dục trẻ em...

Tôi còn nhớ một bài báo của Trung Quốc đặt vấn đề nghi ngờ về sức chiến đấu của quân đội nước này. Các nhà xã hội học Trung Quốc  lo ngại rằng quân nhân nước này, cho dù được trang bị và đào tạo hiện đại nhưng không thực sự có khả năng chiến đấu tốt. Lý do là vì họ thuộc thế hệ con một, sản phẩm của "chính sách một con", được chăm bẵm, chiều chuộng quá kỹ lưỡng nên rất thiếu kỹ năng sống và không chịu được gian khổ...

Có lẽ không chỉ có xã hội Trung Hoa, bất kỳ xã hội nào, nếu điều kiện vật chất dư dả mà cách giáo dục, đào tạo con người theo lối nuôi gà công nghiệp tất nhiên sẽ đẻ ra những cá nhân "gà công nghiệp", thậm chí là những sản phẩm bị lỗi, bị hỏng kiểu sát thủ Lê Văn Luyện.

Những năm gần đây ngoài xã hội xảy ra quá nhiều hiện tượng bất an, trộm cắp, cướp giật, xã hội đen và nhiều dạng tội phạm liên tục sinh sôi. Lòng tốt, lòng nhân ái trở nên hiếm hoi. Người tốt trở nên yếu đuối, yếm thế, thu mình lại trước cái xấu, cái ác.

Điều khẩn thiết nhất lúc này là nuôi dưỡng điều thiện và sự hướng thiện.

Có nhà giáo dục đã phân tích, trong ba nhân tố tham gia vào giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội, thời buổi này, gia đình nổi lên là nhân tố quan trọng nhất. Các chuẩn mực giá trị đạo đức được lưu giữ trong gia đình, cố thủ trong môi trường gia đình...

Nguyễn Văn Nam được sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà những chuẩn mực sống tốt đẹp được lưu giữ cẩn thận, ở một vùng quê dẫu nghèo khó nhưng tương đối trong lành. Ở thành phố lớn, liệu có tìm thấy những người như Nam hay không?

Tấm  gương xả thân của Nguyễn Văn Nam khiến ta phải day dứt tự vấn rất nhiều.

Có một độc giả đã bình luận: Hỡi những người vô liêm sỉ đang tranh nhau xâu xé tài sản quốc gia bằng những thủ đoạn xấu xa, hãy biết xấu hổ cúi đầu trước linh hồn em./.